Bác Hồ với chiến sĩ cảnh vệ

Những câu chuyện giản dị về Bác Hồ luôn làm chúng ta bồi hồi, xúc động. Đó là những câu chuyện kể từ ký ức những ngày bên Bác của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ từng được sống bên Bác, vinh dự bảo vệ Bác trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cho đến ngày Bác đi xa...

Ba câu chuyện dưới đây kể về tấm lòng yêu thương của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Từ quả cam của Bác

Hàng năm cứ đến tháng 10, tháng 11 âm lịch, trong vườn cam của Bác cây nào cũng sai quả trĩu cành. Đứng xa nhìn lại, giữa màu xanh của cỏ cây và màu xám nhạt của mái nhà, thấy bừng lên màu vàng tươi của những quả cam nom thật đẹp.

Buổi sáng Bác thường đi bách bộ xung quanh vườn cam, và chiều nào cũng vậy, Bác dành thời gian vun xới cho cam. Bác chăm chú bắt sâu, nhặt cỏ, vun đất nên lúc nào dưới gốc cam cũng sạch cỏ và đất nhỏ tơi. Bác lấy nước tưới cho từng cây nên cây lúc nào cũng xanh tốt.Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ năm 1963.

Đối với chúng tôi, những người chiến sĩ cận vệ của Người, mỗi lần Tết đến Bác lại hái cam chia cho mỗi người một quả. Còn gì vui sướng hơn khi được cầm quả cam của Bác trên tay. Quả cam chứa nặng nghĩa tình.

Ngày 15-10-1968, lần đầu tiên được Bác cho cam, tôi cảm động quá thầm nghĩ: “Bác quan tâm chăm sóc mình như thế, mình phải làm nhiều hơn nữa để xứng đáng với tình yêu thương của Bác”. Tôi bổ quả cam ra làm đôi, lấy những múi cam ra và giữ lấy hai miếng vỏ, chọn 6 hạt cam mang phơi chờ mang về quê làm kỷ niệm...

Tháng 3-1969 được về phép thăm nhà, tôi mua khá đầy đủ các thứ làm quà. Nhưng thứ quà bố tôi thích nhất là 6 hạt cam và 2 miếng vỏ cam. Ở quê tôi, người ta thường lấy vỏ cam đựng thuốc lào, thơm lâu và đỡ giòn. Còn 6 hạt cam, bố tôi đem ươm ở mảnh đất trước nhà. Hết sức sung sướng vì thứ quà kỷ niệm quý báu đó, bố tôi nói:

- Coi như bố cũng được ăn cam của Bác, vậy bố con ta phải thi đua phấn đấu trong sản xuất và chiến đấu để xứng đáng với công ơn của Bác.

Năm ấy, bố tôi hơn 60 tuổi, đã già yếu, mỗi khi lao động mệt nhọc, lúc nghỉ ngơi hút điếu thuốc lào, tay cầm cái vỏ cam đựng thuốc, lại nhớ tới hình ảnh của Bác, bố tôi phấn khởi hẳn, đời như trẻ lại...

Thấm thoắt hơn một năm sau, 6 hạt cam thành 6 cây cam xanh tốt. Gia đình tôi ai cũng quý những cây cam ấy lắm. Bố tôi vào đội phụ lão trồng cây từ lâu.

Năm 1970, hưởng ứng Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác”, sáng mồng 3 Tết, bố tôi đã đánh 3 cây cam trồng vào vườn cây của hợp tác xã. Từ những cây cam ấy, phong trào trồng cây ở quê tôi cũng được phát động mạnh mẽ. Hàng chục vạn cây đã và đang lên xanh tốt trên các đồi trọc.

Và chuyện hai bao thuốc lá

Hòa bình lập lại chưa đầy 2 năm, tôi được nghỉ phép. Trước khi về tôi đến báo cáo với Bác, Bác cười vui vẻ:

- Chú Lừ về nhà cố gắng “thành công” rồi báo cáo cho Bác biết. Tôi nghĩ: “Sao Bác lại biết về ý định của mình nhỉ?”. Quả tình mà nói, sau 11 năm bảo vệ Bác, nhiều lúc do điều kiện kháng chiến gian khổ, bận rộn nên cán bộ, chiến sĩ ta hồi ấy hầu như không để ý gì đến tuổi tác của mình lắm. Năm đó tôi đã 32 tuổi mà chưa có gia đình.

Từ ngày hòa bình lập lại, nhiều lúc ngồi vui, Bác cháu tâm tình, Bác thường gợi ý nhắc nhở tôi về “vấn đề” này.

Nghe Bác nói, lúc đầu tôi lúng túng đỏ mặt, nhưng sau thấy Bác cười và nhìn tôi âu yếm, tôi trở lại bình tĩnh khẽ đáp:

- Thưa Bác, vâng ạ! Lần này cháu được nghỉ phép, cháu hứa sẽ quyết tâm làm được việc đó.

Bố mẹ tôi mất đã lâu, hai cô em gái đi lấy chồng xa, tôi cũng chẳng hề biết tin tức gì. Thành thử trong những ngày nghỉ phép tôi toàn ở nhà ông cậu. Sau mấy ngày, nhờ ông cậu và bà con chòm xóm giúp đỡ, tôi cũng đã đặt vấn đề được với một người vừa ý. Cô ấy - vợ tôi bây giờ - nhà cũng nghèo khổ như tôi, nhưng được cái khỏe mạnh, chịu thương, chịu khó.

Tôi về báo cáo lại với Bác và đơn vị. Sau đó Bác cho anh Kháng về giúp đỡ tôi tổ chức lễ cưới. Trước khi đi Bác đưa cho tôi hai bao thuốc và dặn:

- Phải tổ chức sao cho vui vẻ, nhưng cũng phải hết sức tiết kiệm đấy, Lừ nhé!

Tôi đưa tay đỡ lấy hai bao thuốc lá Bác cho mà sung sướng đến lặng người.

Hôm ấy là một ngày mùa thu đẹp trời. Ngoài đồng lúa màu đang lên xanh mơn mởn. Công việc đồng áng vừa tạm ngơi chân, ngơi tay. Vâng theo lời Bác, đám cưới của chúng tôi theo đời sống mới. Bà con họ mạc láng giềng ai cũng thương, cũng quý nên đến dự mừng chúng tôi rất đông.

Xong phần tuyên bố lý do, chính quyền công nhận, họ hàng khuyên bảo, dặn dò và chúng tôi hứa hẹn, đến phần liên hoan, ông cậu tôi đứng lên, vẻ trịnh trọng, hai tay nâng hai bao thuốc lá trước ngực:

- Cháu Lừ đi bộ đội được hồng phúc sống gần Cụ Hồ. Biết cháu cưới vợ, Cụ gửi quà về. Đây là quà mừng của Cụ.Mọi người đều sửng sốt, mặc dù cậu của tôi nhắc lại đến lần thứ hai mà chẳng ai dám tin đó là sự thật. Rồi khi hiểu ra, không ai bảo ai, tất cả đều xô lại chuyền tay nhau ngắm nhìn bao thuốc lá của Bác. Sung sướng, cảm động, cậu tôi, vợ tôi và nhiều bà con khác nữa đã không cầm nổi nước mắt.

Tôi đem bao thuốc lá của Bác chia cho các ông, các bà trưởng họ và những người già cả nhất. Mọi người không ai bảo ai, đều đem gói lại, cất vào túi để làm kỷ niệm.

Đến câu chuyện về quả ớt

Đi gác về, cất súng vào giá, tôi và Mỹ rủ nhau xuống nhà bếp xem thử anh nuôi xào nấu món ăn trưa ra sao mà mùi hành phi mỡ thơm quá. Thì ra đó là món canh cua: “Canh cua ăn vào mùa hè thì ngon rồi”. Tôi nghĩ thế và nói với Mỹ!

- Có thêm ớt nữa thì tuyệt!

Mỹ cũng vào loại ăn ớt khá nhất đại đội, nghe tôi gợi ý, Mỹ rủ tôi đi tìm ớt. Thế là tôi và Mỹ trở lại vọng gác, nơi chúng tôi vừa làm nhiệm vụ. Vì cạnh vọng gác có một luống ớt rất tốt và khá sai quả. Tôi cúi xuống đang tìm một quả ớt chín định hái thì tình cờ Bác từ trong nhà làm việc đi ra:

- Các chú tìm gì đấy?

Tôi ngẩng lên nhìn Bác. Bác đã đứng ngay trước mặt rồi. Ôi, làm sao được bây giờ, biết trốn đi đâu?

Tôi ấp a ấp úng mãi mới nói được:

- Dạ… dạ thưa Bác, chúng cháu có khuyết điểm ạ!

Biết chúng tôi đang lo sợ, vì rõ ràng là chúng tôi đã tự ý vào vườn của Bác để vặt trộm ớt.

Hai vành tai tôi nóng bừng xấu hổ. Tôi đứng chờ đợi một lời phê bình của Bác về việc này. Nhưng Bác không hề phê bình mà hỏi lại chúng tôi:

- Trưa nay các chú có món gì ngon đấy!

Tôi vẫn đứng im như trời trồng, còn Mỹ thì lúng túng thưa:

- Dạ, thưa Bác có canh cua ạ

!- Canh cua mà có ớt thì ngon đấy! Vừa nói Bác vừa hái những quả ớt chín đỏ rồi đưa cho tôi:

- Bác cho hai chú đây, còn những quả này các chú về lấy hạt, phơi khô để làm giống. Loại ớt này tốt lắm!

Cầm những quả ớt Bác cho, chúng tôi rất hối hận, vì từ trước tới nay việc tăng gia sản xuất chúng tôi đã chú ý đến, nhưng làm vẫn chưa tốt. Từ đó ngoài vườn tăng gia bên cạnh những luống rau, chúng tôi còn trồng thêm những luống ớt từ hạt giống Bác cho và các loại gia vị khác.

Biết thành tích của chúng tôi Bác đã biểu dương và khen ngợi.

Phạm Gia Vệ

(Trích hồi ký “Bác Hồ với Đoàn Tân Trào”)